Ca Đêm Không Kết Thúc
Sau khi màn hình máy tính tắt phụt, tôi và chị Hạ không ai nói với ai câu nào.
Căn phòng làm việc nhỏ trên tầng hai tiệm in cũ im đến mức tôi nghe rõ tiếng quạt máy quay khô khốc trên trần. Ngoài cửa sổ, thành phố Tân Lạc vẫn sáng đèn như mọi đêm. Xe máy còn chạy dưới đường. Quán hủ tiếu bên kia phố vẫn có khách. Thi thoảng có tiếng còi xe vọng lên, tiếng người gọi nhau, tiếng cửa cuốn kéo xuống.
Tất cả những âm thanh đó đáng lẽ phải làm tôi yên tâm.
Nhưng tôi chỉ nhìn chằm chằm vào màn hình đen trước mặt.
Trong màn hình ấy, vài giây trước, tôi đã thấy chính mình trong gương chiếu hậu của một chiếc xe chạy từ năm năm trước.
Không phải bóng dáng mơ hồ.
Không phải khuôn mặt giống giống.
Mà là tôi.
Lê Minh Khánh.
Gương mặt tái nhợt, mắt mở to, nhìn thẳng ra ngoài như biết rằng tôi của hiện tại đang ngồi trước màn hình, nhìn lại chính mình trong một đoạn đường không thuộc về thời gian này.
Chị Hạ là người đứng dậy trước.
Chị đi ra khóa cửa phòng, rồi kéo rèm cửa sổ lại. Động tác của chị vẫn nhanh, vẫn gọn, nhưng tôi thấy tay chị run khi gài chốt.
“Khánh.”
Tôi không đáp.
“Khánh.”
Tôi ngẩng lên.
Chị Hạ nhìn tôi, mặt trắng bệch nhưng giọng cố giữ bình tĩnh.
“Không được để cái thẻ này ở đây.”
“Tao biết.”
“Không. Mày chưa biết.” Chị chỉ vào chiếc camera hành trình cũ của Trịnh Văn Quân nằm trên bàn. “Cái này không chỉ là chuyện ma. Trong video có giọng một người gọi là anh Thành. Có tuyến đường. Có xe. Có thời gian. Có câu chuyện cốp xe. Nếu đúng là Lưu Đình Thành dính vào vụ này, thì cái thẻ nhớ này là bằng chứng.”
Tôi nhìn chiếc thẻ nhớ nhỏ xíu trong đầu đọc.
Một mảnh nhựa bé bằng móng tay, vậy mà có thể khiến một người chết năm năm không nhắm mắt.
Tôi hỏi:
“Đủ chưa?”
“Gì?”
“Bằng chứng đủ chưa?”
Chị Hạ im.
Tôi hiểu ngay.
Chưa đủ.
Video hỏng nhiều đoạn. Giọng nói méo. Không có hình Lưu Đình Thành trực tiếp ra tay. Không có cảnh trong cốp là gì. Không có đoạn Quân bị giết. Nếu đem đi trình báo, người ta có thể mở lại điều tra, cũng có thể xem đó là dữ liệu lỗi, bị chỉnh sửa, hoặc tệ hơn, bị người của Lưu Thành biết trước rồi dập đi.
Chị Hạ ngồi xuống, rút thẻ nhớ ra, bỏ vào một túi zip nhỏ.
“Tao sẽ sao lưu ra ba bản. Một bản giữ ở đây. Một bản gửi lên cloud bằng tài khoản khác. Một bản đưa bác Tư.”
“Còn tao?”
Chị nhìn tôi.
“Mày về ngủ.”
Tôi bật cười.
Tiếng cười khô khốc, nghe chẳng giống tiếng của mình.
“Ngủ? Sau khi thấy mặt tao trong xe của người chết năm năm trước?”
“Vậy mày muốn làm gì?”
Tôi không đáp.
Nhưng trong đầu tôi đã có câu trả lời.
Tôi biết cái cuốc đó sẽ quay lại.
Không phải linh cảm nữa.
Tôi biết.
Từ đêm đầu tiên, nó đã nói với tôi rồi.
Cuốc xe này chưa kết thúc.
Tôi về nhà lúc gần sáng.
Mẹ tôi đang ngủ, đèn phòng bà còn để một bóng nhỏ. Tôi đứng ngoài cửa nhìn bà một lúc. Mái tóc bà bạc nhiều hơn tôi nhớ. Cái chăn mỏng kéo lên ngang ngực, một tay bà vẫn đặt trên bụng như thói quen khi ngủ không yên.
Tôi đã chạy đêm ba năm để kiếm tiền. Tôi từng nghĩ chỉ cần mình chịu khó hơn, thức khuya hơn, nhận thêm vài cuốc nữa, cuộc sống sẽ đỡ nặng. Nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ có một đêm, chính nghề đó lại kéo tôi đến sát một thứ mà người sống không nên chạm vào.
Tôi vào phòng, không bật đèn.
Việc đầu tiên tôi làm là tháo gương chiếu hậu xuống.
Tôi đặt nó lên bàn, lấy khăn lau mạnh vệt tay mờ trên mặt gương. Lau bằng nước. Lau bằng cồn. Lau bằng dung dịch rửa kính.
Không sạch.
Vệt mờ ấy vẫn nằm đó, kéo từ mép phải vào giữa gương, như dấu bàn tay của một người đã bám từ phía bên kia rất lâu.
Tôi cầm gương lên, định quăng vào thùng rác.
Nhưng ngay khi nghiêng gương, trong mặt kính tối, tôi thoáng thấy một khoảng ghế sau ướt nước mưa.
Tôi giật mình buông tay.
Gương rơi xuống sàn, không vỡ.
Chỉ vang lên một tiếng cạch khô.
Tôi ngồi trên giường đến sáng, mắt mở trân trân. Cứ mỗi lần lim dim, tôi lại nghe tiếng gõ.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Không rõ từ ngoài sân, từ trong cốp xe, hay từ trong đầu tôi.
Đến trưa, chị Hạ gọi.
“Tối nay mày qua chỗ tao. Tao tìm được thêm một thứ.”
Tôi hỏi ngay:
“Thứ gì?”
“Trong file video của Quân có tọa độ bị lỗi. Tao khôi phục được một phần. Điểm cuối không chỉ là Hẻm Cống Trắng. Nó dẫn tới một nhà kho cũ sau hẻm, trước kia thuộc bên vận chuyển y tế. Sau này giấy tờ sang tên mấy lần, nhưng chủ cũ là công ty của Lưu Đình Thành.”
Tôi ngồi thẳng dậy.
“Nhà kho đó còn không?”
“Còn. Nhưng trên bản đồ hiện tại không ghi tên. Hình ảnh vệ tinh cũng mờ, chắc bị che bởi mái tôn khu chợ sau. Bác Tư nói hồi đó người ta gọi là kho Cống Trắng.”
Kho Cống Trắng.
Cái tên ấy làm tôi nhớ lại giọng Quân trong video:
“Anh Thành nói chở thùng hồ sơ ra kho Cống Trắng là xong đúng không?”
Tôi hỏi:
“Có thể tới đó ban ngày không?”
“Ban ngày là một hẻm cụt, tường khóa, nhà dân bịt kín. Bác Tư bảo chỗ đó sau vụ cháy bị niêm phong rồi bán qua tay người khác. Nhưng…”
Chị Hạ ngừng lại.
“Nhưng gì?”
“Bác nói nếu muốn thấy đúng nhà kho năm đó, phải đi vào sau hai giờ sáng.”
Tôi không nói gì.
Chị Hạ cũng im.
Một lúc sau, chị nói:
“Khánh, tao không khuyên mày đi. Tao chỉ nói sự thật thôi. Nếu mình cần đoạn cuối của video, hoặc bằng chứng còn lại, có thể nó nằm ở đó.”
“Đêm nay là đêm cuối.”
“Mày nói nghe dễ quá.”
“Nếu không đi, mỗi đêm 2:17 nó sẽ hiện lại. Tao tắt nguồn mà còn không thoát. Tao trốn được bao lâu?”
Chị Hạ thở ra rất nhẹ.
“Vậy chuẩn bị cho đàng hoàng.”
Chiều hôm đó, tôi lái xe đến bãi của bác Tư Gác.
Bác ngồi trong chòi tôn như lần trước, cái radio chạy pin để bên cạnh, phát một chương trình cải lương cũ bị nhiễu sóng. Trời hôm ấy không mưa lúc chiều, nhưng mây đen đóng thấp, gió lùa qua bãi xe mang theo hơi ẩm lạnh.
Bác Tư nhìn tôi từ xa đã biết.
“Cậu định đi.”
Tôi gật.
“Dạ.”
Bác không hỏi thêm. Ông cúi xuống lấy trong ngăn bàn ra một vật nhỏ bọc trong khăn đỏ cũ. Mở ra là một tấm thẻ nhựa cháy sém một góc. Trên thẻ có ảnh Trịnh Văn Quân, số tài xế đã mờ, nhưng tên vẫn đọc được.
TRỊNH VĂN QUÂN.
Bác đưa cho tôi.
“Cầm theo.”
Tôi nhận lấy.
“Tại sao ạ?”
“Người chết oan sợ nhất là bị gọi sai. Người sống hay gọi họ là con ma, cái vong, thằng tài xế chết trong cốp. Nhưng họ từng có tên, có nhà, có người đợi. Nếu gặp nó, gọi đúng tên.”
Tôi siết tấm thẻ trong tay.
Bác Tư nói tiếp:
“Còn cái này.”
Ông đưa thêm một chìa khóa nhỏ, đầu chìa bám rỉ.
“Chìa khoá phụ của kho Cống Trắng. Không chắc mở được, nhưng nếu tới đúng chỗ, nó sẽ biết đường.”
“Bác không đi cùng tụi con sao?”
Bác nhìn ra bãi xe. Ánh mắt đục nhưng buồn.
“Tôi già rồi. Có những đoạn đường người già không nên đi lại lần hai. Hồi đó tôi im. Tôi thấy mấy xe ra vào, thấy thằng Quân hoảng, thấy đám người của Thành lấp liếm, nhưng tôi im. Tôi nghĩ mình chỉ là bảo vệ, nói ra cũng không ai tin. Năm năm nay, đêm mưa nào tôi cũng nghe tiếng xe thắng trước cổng bệnh xá.”
Bác ngừng một chút.
“Nếu gặp Quân, nói giùm tôi một câu.”
“Câu gì ạ?”
Bác Tư cúi mặt, giọng khàn đi.
“Nói là bác Gác xin lỗi.”
Tôi bỏ tấm thẻ của Quân vào túi áo ngực, ngay sát tim.
Tối hôm đó, tôi không ăn được.
Mẹ tôi nấu canh rau, cá kho, còn để thêm chén nước mắm ớt như mọi bữa. Tôi ngồi trước mâm, gắp vài miếng cho có. Bà Sáu My nhìn tôi, không hỏi nhiều. Có lẽ người mẹ nào cũng biết lúc nào con mình đang giấu chuyện, chỉ là họ chọn hỏi hay không.
Khi tôi đứng dậy lấy áo khoác, bà gọi:
“Khánh.”
Tôi quay lại.
“Dạ?”
“Đêm nay lại chạy?”
Tôi định nói dối. Nhưng nhìn mắt bà, cổ họng tôi nghẹn lại.
“Dạ. Một cuốc cuối.”
Bà im lặng.
Rồi bà đứng dậy đi vào bàn thờ nhỏ trong góc nhà, thắp một nén nhang. Khói nhang bay lên rất mỏng, cong về phía cửa dù trong nhà không có gió.
Bà lấy trong ngăn tủ ra một sợi chỉ đỏ cũ, buộc vào cổ tay tôi.
“Hồi nhỏ con hay sốt đêm, ngoại con buộc cái này. Má không biết có giúp được gì không. Nhưng con cứ mang.”
Tôi nhìn sợi chỉ đỏ.
“Má…”
Bà cắt lời tôi.
“Có chuyện gì thì nhìn đường mà chạy. Đừng quay đầu lung tung.”
Tôi lạnh sống lưng.
“Má nói gì vậy?”
Bà nhìn ra sân, nơi xe tôi đậu dưới bóng tối.
“Má cũng không biết. Tự nhiên trong đầu má nghĩ vậy.”
Tôi cúi đầu, không dám nói nữa.
Chị Hạ ngồi ở ghế phụ khi tôi đến đón. Trên tay chị là laptop, điện thoại dự phòng, hai pin sạc, một camera nhỏ gắn thêm trên kính lái và một túi đựng thẻ nhớ.
“Tao sẽ đi với mày đến gần bệnh xá,” chị nói. “Nhưng nếu app hiện cuốc, có thể nó chỉ cho một mình mày vào.”
“Tao không muốn kéo mày theo.”
“Muộn rồi. Tao đã thấy mặt mày trong camera. Tao cũng thấy người đội mũ ngoài cửa. Nó biết tao rồi.”
Tôi không cãi.
Chúng tôi gắn thêm camera, bật ghi âm, bật định vị chia sẻ với một tài khoản phụ. Chị Hạ đặt điện thoại của chị ở chế độ ghi liên tục. Trên ghế sau, tôi để trống. Không mang áo mưa của Quân. Không mang mũ bảo hiểm cũ. Chỉ có tấm thẻ tên trong túi áo và chìa khóa kho Cống Trắng.
23:58.
Tân Lạc bắt đầu thưa xe.
00:47.
Mưa rơi.
01:32.
Chúng tôi đậu cách Bệnh xá Vườn Dâu Cũ khoảng một cây số, trước một quán nước đã đóng cửa.
02:10.
Điện thoại tôi đang khóa màn hình.
02:15.
Radio xe rè một tiếng.
Chị Hạ nhìn tôi.
“Tới rồi.”
02:17.
Màn hình điện thoại tự sáng.
Ứng dụng gọi xe mở ra.
Thông báo hiện giữa màn hình:
“Có cuốc gần bạn.”
Điểm đón: Bệnh xá Vườn Dâu Cũ.
Điểm đến: Hẻm Cống Trắng.
Tên khách không hiện.
Giá cước là một dãy số:
Tôi biết đó không còn là tiền.
Chị Hạ đưa tay định chạm vào màn hình, nhưng điện thoại bỗng tối sầm. Khi sáng lại, trên màn hình chỉ còn một nút xanh.
NHẬN CUỐC.
Chị nhìn tôi.
“Đường định vị của mày vẫn hiện trên máy tao. Tao sẽ theo được tới khi mất sóng. Nếu tìm được gì, đừng gửi qua app. Gọi trực tiếp. Nếu không gọi được thì cứ để camera chạy.”
Tôi gật.
Tay tôi đặt lên màn hình.
Trước khi bấm, tôi nhìn chị.
“Nếu tao không về…”
“Im đi.”
Chị nói rất nhanh.
“Tao không nghe câu đó.”
Tôi cười nhạt, rồi bấm nhận.
Ngay lập tức, cửa ghế phụ bật mở.
Tôi giật mình.
Không phải cửa sau.
Cửa ghế phụ, nơi chị Hạ đang ngồi, tự bật mở.
Một luồng gió lạnh lùa qua khoang xe. Chị Hạ tái mặt, dây an toàn tự bung ra. Có thứ gì đó như kéo vai chị ra ngoài.
Tôi chụp lấy tay chị.
“Hạ!”
Chị nghiến răng, tay kia bám vào bảng điều khiển.
Trên màn hình app hiện dòng chữ:
“Chỉ tài xế thực hiện cuốc.”
Cửa xe mở rộng hơn.
Gió lạnh rít qua.
Chị Hạ nhìn tôi, thở dốc.
“Đi đi.”
“Tao không—”
“Đi!”
Chị tự tháo tay tôi ra, chụp laptop và túi thẻ nhớ, nhảy xuống xe. Cửa đóng sầm lại ngay sau lưng chị.
Kính bên phụ mờ trắng.
Qua lớp sương, tôi thấy chị đứng ngoài mưa, cầm điện thoại nhìn tôi. Miệng chị mấp máy:
“Sống mà về.”
Tôi không nghe tiếng, nhưng tôi đọc được.
Xe tự khóa cửa.
Ứng dụng phát giọng:
“Đang đến điểm đón.”
Tôi lái vào con đường dẫn tới Bệnh xá Vườn Dâu Cũ.
Lần này, cổng bệnh xá mở hé.
Không như hai đêm trước, tấm cổng sắt không khóa. Nó hé ra đủ rộng cho một người đi qua, bên trong sân cỏ dại ngả rạp dưới mưa. Dãy nhà cấp cứu tối om, nhưng ở tầng một, ánh đèn trắng lập lòe mạnh hơn, lúc sáng lúc tắt như tín hiệu yếu.
Tôi dừng xe trước cổng.
Không cần bấm gọi.
Người ấy đã đứng đó.
Áo mưa xám.
Mũ bảo hiểm cũ.
Dáng người hơi nghiêng như vai trái từng bị thương.
Tôi nhìn thẳng phía trước, không nhìn gương.
Cửa sau mở ra.
Mùi thuốc sát trùng, khói cháy và nước mưa tràn vào khoang xe.
Người khách ngồi xuống sau lưng ghế lái.
Cửa đóng lại.
Cạch.
Tôi hít sâu.
Rồi nói:
“Trịnh Văn Quân.”
Khoang xe im lặng.
Rất lâu.
Tôi nghe tiếng mưa rơi trên mui xe. Nghe cả nhịp tim mình đập trong tai.
Sau đó, giọng khàn quen thuộc vang lên:
“Vậy anh đã biết tôi chết ở đâu rồi.”
Tôi siết vô lăng.
“Tôi biết anh không phải người đặt cuốc để hại tôi.”
Quân cười rất khẽ. Tiếng cười như hơi gió chạm vào tro nguội.
“Anh chắc không?”
Tôi không đáp ngay.
Thật lòng, tôi không chắc.
Tôi biết Quân chết oan. Tôi biết anh ta bị kẹt trong cuốc xe này. Nhưng tôi cũng biết đêm đầu tiên, nếu tôi nhìn gương lâu hơn, nếu tôi mở cốp sớm hơn, có thể bây giờ người nằm trong cốp đã là tôi.
Quân là nạn nhân.
Nhưng người chết oan đôi khi cũng kéo người sống xuống cùng, không phải vì họ ác, mà vì họ quá lạnh, quá cô độc, quá lâu không ai nghe thấy tiếng gõ của họ.
Tôi nói:
“Tôi biết anh muốn tôi đi hết tuyến đường.”
Quân im lặng.
Rồi anh nói:
“Đi đường vòng. Không qua cầu.”
“Tôi biết.”
“Không mở cốp.”
“Tôi biết.”
“Không dừng xe khi nghe gọi tên.”
“Tôi biết.”
“Đèn đường tắt thì chạy thẳng.”
Tôi nhìn vào màn mưa trước mặt.
“Lần này, tôi không chạy để thoát. Tôi chạy để lấy thứ trong cốp ra.”
Ngay khi tôi nói câu đó, từ phía sau xe vang lên một tiếng gõ.
Cộc.
Quân nói rất nhỏ:
“Vậy thì đừng để họ lên xe.”
Tôi cho xe chạy.
Bản đồ tự đổi tuyến ngay khi rời cổng bệnh xá. Nhưng lần này tôi không nhìn nó nhiều. Tôi để điện thoại trên giá đỡ, để camera hành trình chạy, rồi nhìn thẳng ra đường.
Thành phố bắt đầu sai lệch như đêm đầu tiên.
Đèn giao thông xanh lâu bất thường.
Những đoạn phố quen kéo dài ra.
Biển hiệu mới biến thành biển cũ đã tháo từ nhiều năm trước.
Một cửa hàng tiện lợi tôi biết rõ bỗng trở lại thành tiệm thuốc tây cũ, bảng hiệu bong sơn. Tòa nhà văn phòng phía trước chớp mắt thành một khu nhà thấp, cửa sổ gỗ đóng kín. Mưa làm mọi thứ nhòe đi, như tôi đang lái xe xuyên qua hai thời điểm chồng lên nhau.
Radio rè lên.
Lần này trong tiếng rè không chỉ có tiếng thở.
Có tiếng loa bệnh xá:
“Yêu cầu di chuyển bệnh nhân khỏi khu điều trị sau…”
Rẹt.
“Không dùng thang máy…”
Rẹt.
“Danh sách bệnh nhân chuyển đi…”
Rẹt.
Rồi tiếng người ho, tiếng trẻ con khóc, tiếng bánh xe cáng chạy trên nền gạch ướt.
Tôi hỏi:
“Đêm đó thật ra có bao nhiêu người chết?”
Quân ngồi sau lưng tôi rất lâu mới đáp.
“Nhiều hơn con số họ công bố.”
“Ai bị đưa ra khỏi bệnh xá?”
“Người không còn thở. Người còn thở. Hồ sơ của người này gắn vào tay người kia. Vòng tên bị tháo. Túi đồ bị đổi. Có người đáng lẽ phải vào nhà xác, lại được đưa lên xe chở đi. Có người còn sống, nhưng trên giấy đã chết.”
Tôi lạnh gáy.
“Tại sao?”
“Tiền bảo hiểm. Trách nhiệm. Sai phạm trong khu điều trị. Thuốc hết hạn. Thiết bị hỏng. Người nhà bệnh nhân bị chặn ngoài cổng. Lửa chỉ đốt một phần. Phần còn lại do người sống dập bằng tiền.”
Tôi nghe trong cốp có tiếng gõ nhẹ.
Cộc.
Quân nói tiếp:
“Đêm đó tôi được gọi tới. Họ bảo chở hồ sơ y tế ra kho Cống Trắng. Tôi thấy thùng niêm phong. Thấy người của Thành đứng đó. Tôi không hỏi. Tài xế đêm như tôi, người ta thuê thì chạy. Tôi chỉ cần tiền mua sữa cho con.”
Giọng anh khàn đi.
“Đến nửa đường, tôi nghe tiếng gõ trong cốp.”
Tôi nhìn thẳng, không dám liếc gương.
“Anh đã mở?”
“Tôi dừng xe.”
Bên ngoài cửa kính, một bóng người mặc áo bệnh nhân cháy sém chạy song song. Tôi thấy qua khóe mắt một bàn tay áp lên kính, nhưng tôi không quay.
Quân nói:
“Tôi mở cốp. Bên trong không phải hồ sơ.”
“Là gì?”
“Có một túi đựng hồ sơ cháy sém. Có thẻ bệnh nhân. Có băng ghi âm từ phòng trực. Và có một người.”
Tay tôi siết chặt vô lăng.
“Còn sống?”
Quân im.
Tiếng mưa đập lên kính nặng hơn.
“Lúc tôi mở ra, người đó còn gõ được hai tiếng.”
Tôi không nói nổi.
Quân tiếp:
“Tôi gọi cho Thành. Hắn bảo tôi đóng lại, chạy tiếp. Tôi nói sẽ báo công an. Mười phút sau, có xe chặn đầu. Tôi không nhớ hết. Chỉ nhớ mùi xăng, mùi thuốc sát trùng, và cảm giác không thở được. Khi tỉnh lại, tôi nghe tiếng gõ.”
“Tiếng ai?”
“Tiếng của chính tôi.”
Trong xe lạnh đến mức hơi thở tôi mờ trên kính.
“Người ta nhét anh vào cốp?”
“Ừ.”
“Rồi dựng thành tai nạn?”
“Ừ.”
“Còn người trong cốp ban đầu?”
Quân không đáp.
Từ cốp xe tôi vang lên hai tiếng gõ.
Cộc.
Cộc.
Như một câu trả lời.
Tôi lái qua một ngã tư.
Đèn xanh.
Xanh quá lâu.
Phía ngoài đường, có tiếng người gọi:
“Khánh!”
Tôi cứng người.
Là giọng chị Hạ.
“Khánh! Dừng xe! Tao tìm được rồi!”
Tôi nhìn màn hình điện thoại. Không có cuộc gọi. Không có tín hiệu.
Giọng chị Hạ ngoài đường vang lên rõ hơn:
“Dừng lại! Mày đi sai đường rồi!”
Tôi đạp ga.
Quân nói:
“Đừng nghe.”
Giọng ngoài đường chuyển thành tiếng mẹ tôi.
“Khánh ơi, má đau ngực quá… dừng lại chở má đi bệnh viện…”
Mồ hôi túa ra trên trán tôi.
Tôi biết mẹ đang ở nhà.
Tôi biết đó không phải mẹ.
Nhưng khi một người gọi bằng giọng mẹ mình trong đêm mưa, nói rằng bà đau ngực, thì lý trí chỉ còn là một sợi chỉ rất mỏng.
Tôi cắn vào môi đến bật máu.
Không dừng.
Bóng người bên ngoài chạy theo xe. Có người gõ vào kính. Có người cúi sát, mặt trắng bệch, miệng mở ra không có tiếng. Có bóng trẻ con ngồi bên vệ đường, ôm một cái cặp cháy sém. Có người đàn bà mặc áo bệnh nhân đi lùi giữa mưa, mắt nhìn thẳng vào xe tôi.
Tôi không nhìn.
Tôi nhìn đường.
Đèn đường phía trước bắt đầu tắt.
Một bóng.
Hai bóng.
Ba bóng.
Quân nói:
“Chạy thẳng.”
Tôi đáp:
“Tôi biết.”
Xe lao vào đoạn tối.
Cảm giác lần này khác đêm đầu. Đêm đầu, tôi là người bị kéo đi. Lần này, tôi biết mình đang đi vào đâu. Chính vì biết, nỗi sợ còn nặng hơn.
Đường tối kéo dài ra như ruột một con vật lớn. Đèn pha xe chỉ soi được mặt đường trước mũi. Bản đồ trên điện thoại bắt đầu xoay vòng, mũi tên xe lúc hướng lên, lúc hướng xuống, rồi cuối cùng biến thành một chấm xanh đứng im giữa khoảng xám.
Radio rè.
Trong tiếng rè có giọng đàn ông khác.
Không phải Quân.
Giọng trầm, bình thản, sạch sẽ.
“Đóng cốp lại.”
Tôi nhìn sang radio.
Màn hình vẫn tắt.
Giọng đó tiếp:
“Cậu không thấy gì hết. Cậu chỉ là tài xế. Cậu muốn bao nhiêu tiền?”
Quân ngồi sau lưng tôi im lặng.
Tôi hỏi:
“Lưu Đình Thành?”
Không ai trả lời.
Nhưng cốp xe vang lên một tiếng gõ rất mạnh.
Cộc!
Đoạn đường tối kết thúc đột ngột.
Trước mặt tôi là Hẻm Cống Trắng.
Con hẻm hẹp, tường ẩm, rãnh nước trắng đục chảy dọc. Nhưng lần này, nó không giống hẻm trong thành phố nữa.
Tường hai bên loang khói.
Những cánh cửa sắt đóng kín biến thành những khung cửa bệnh xá cũ, bong sơn, kính vỡ. Mùi thuốc sát trùng nồng lên. Trong mưa có lẫn tro. Đèn pha xe quét qua một tấm bảng rỉ sét nằm nghiêng bên tường:
KHU XỬ LÝ HỒ SƠ — KHÔNG PHẬN SỰ MIỄN VÀO.
Tôi biết mình đã tới đúng nơi.
Kho Cống Trắng nằm cuối hẻm.
Nhưng “cuối hẻm” không bao giờ tới ngay. Tôi lái mãi, hai bên tường cứ lùi dần. Đèn pha chiếu đến đâu, hẻm dài thêm đến đó. Rãnh nước trắng đục chảy ngược, kéo theo những mảnh giấy cháy, găng tay y tế, dây truyền dịch đứt và vài tấm thẻ bệnh nhân không còn đọc được tên.
Điện thoại tôi đổ chuông.
Lần này là số lạ.
Tôi không nghe.
Màn hình tự bắt máy.
Giọng chị Hạ vang lên, lần này rất thật, rất gấp:
“Khánh! Tao mất định vị của mày rồi! Mày nghe không?”
Tôi nhìn điện thoại.
Có tín hiệu.
Tôi muốn trả lời, nhưng Quân nói ngay:
“Thử cô ấy.”
Tôi hiểu.
Tôi hỏi lớn:
“Hạ, hồi mới quen tao, mày bắt tao đền cái gì?”
Đầu dây im một giây.
Rồi giọng chị Hạ đáp:
“Mày làm đổ cà phê lên laptop tao. Tao bắt mày đền cái bàn phím, đồ khùng!”
Tôi thở ra.
Là chị thật.
“Hạ, tao đang ở Hẻm Cống Trắng. Cuối hẻm có kho.”
“Tao nghe được. Camera vẫn ghi, nhưng hình toàn nhiễu. Tao đang tới với bác Tư, nhưng bản đồ không hiện hẻm. Mày đừng tắt máy.”
“Không chắc tao giữ được sóng.”
“Tìm bằng chứng rồi ra. Đừng làm anh hùng.”
Cuộc gọi rè đi.
Trước khi mất hẳn, tôi nghe chị hét:
“Và đừng mở cốp nếu chưa thấy trời sáng!”
Điện thoại tắt.
Tôi cười nhạt.
“Câu này ai cũng dặn.”
Quân nói:
“Vì ai mở sớm cũng không còn là mình nữa.”
Xe cuối cùng dừng trước một nhà kho cũ.
Mái tôn sập một góc. Cửa sắt khóa bằng xích, nhưng xích đã rỉ gần đứt. Trên cửa còn một tấm biển mờ:
KHO VẬT TƯ THANH LÝ.
Dưới lớp chữ mới bong tróc, tôi thấy dòng chữ cũ hơn:
KHO CỐNG TRẮNG.
Tôi tắt máy.
Lần này động cơ tắt thật.
Mưa rơi nặng hạt hơn.
Tôi ngồi yên vài giây, rồi lấy chìa khóa bác Tư đưa. Quân vẫn ở ghế sau, nhưng tôi không quay lại.
“Anh có xuống không?”
“Không.”
“Tại sao?”
“Tôi không ra khỏi xe được trước khi cuốc kết thúc.”
Tôi nhìn vào gương theo bản năng, nhưng lập tức nhắm mắt, chỉ nhìn lại phía trước.
“Trong kho có gì?”
“Thứ họ để quên. Thứ họ tưởng đã cháy hết.”
Tôi mở cửa xuống xe.
Ngay khi chân chạm đất, nước trong hẻm lạnh buốt ngấm qua giày. Tôi kéo áo khoác, chạy tới cửa kho. Chìa khóa rỉ cắm vào ổ khó khăn, ban đầu không xoay. Tôi nghiến răng vặn mạnh.
Cạch.
Ổ khóa bung ra.
Bên trong kho tối đặc.
Tôi bật đèn pin điện thoại. Ánh sáng quét qua những thùng carton mục, giường bệnh gãy, bình oxy rỉ, tủ hồ sơ méo mó, những tấm bạt phủ lên đồ vật không rõ hình dạng. Mùi trong kho nồng đến mức tôi phải đưa tay che miệng: thuốc sát trùng cũ, giấy cháy, ẩm mốc và một mùi tanh rất nhạt, như thứ gì đó đã khô từ lâu nhưng chưa bao giờ biến mất.
Tôi bật camera điện thoại, ghi hình liên tục.
Ở góc kho, có một tủ sắt bị cháy đen.
Trên tủ có dấu niêm phong cũ đã rách. Tôi kéo thử. Cửa tủ kẹt. Tôi dùng hết sức giật mạnh. Bản lề rít lên, rồi bật ra.
Bên trong là những tập hồ sơ cháy sém, buộc bằng dây thun đã mục. Nhiều trang chỉ còn nửa chữ. Nhưng có vài bìa hồ sơ được bọc nylon nên vẫn đọc được.
Danh sách chuyển viện sau cháy.
Danh sách tử vong.
Danh sách xử lý vật tư.
Tôi lật nhanh.
Có những cái tên bị gạch.
Có những mã hồ sơ bị sửa bằng bút đỏ.
Có một bảng ghi số lượng thi thể bàn giao: 7.
Bên dưới, một tờ nháp cháy sém ghi con số khác: 11.
Tôi chụp liên tục.
Rồi tôi thấy một phong bì nhựa nhỏ nằm kẹt dưới đáy tủ.
Trong đó có một băng ghi âm mini, một thẻ nhớ cũ và một bảng tên bệnh nhân cháy mất nửa góc. Trên bảng tên chỉ còn đọc được:
… THẢO
Tuổi: 24
Khu điều trị sau
Phía sau bảng tên có vết móng tay cào.
Tôi nghe tiếng gõ.
Không phải từ cốp xe ngoài kia.
Mà từ trong kho.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Tôi chiếu đèn về phía âm thanh.
Ở cuối kho có một thùng gỗ dài, giống thùng đựng thiết bị y tế. Nắp thùng đóng bằng chốt sắt. Trên mặt thùng phủ đầy bụi, nhưng có ba vệt tròn sạch sẽ như vừa bị ai gõ từ bên trong.
Tôi đứng im.
Điện thoại trong tay báo pin còn 47%, rồi trong một giây tụt xuống 9%.
Từ ngoài kho, Quân hét lên:
“Khánh! Ra!”
Đó là lần đầu tiên anh gọi tên tôi bằng giọng người sống.
Tôi gom phong bì, mấy tập hồ sơ còn đọc được, nhét vào túi chống nước chị Hạ chuẩn bị. Khi quay ra cửa, tôi thấy trong kho không còn tối nữa.
Có người đứng giữa các tủ hồ sơ.
Một người đàn ông khoảng ngoài sáu mươi, tóc bạc chải gọn, mặc áo mưa đen sạch sẽ, tay cầm ô. Gương mặt ông ta bình thản đến mức lạc lõng trong cái kho mục nát này.
Tôi đã thấy mặt ông ta trong bài báo cũ chị Hạ tìm được.
Lưu Đình Thành.
Ông ta nhìn tôi, rồi nhìn túi hồ sơ trên tay tôi.
“Cậu tài xế.”
Giọng ông ta đúng là giọng trong radio.
Tôi lùi một bước.
Ông ta mỉm cười.
“Thứ đó không phải của cậu.”
“Tôi nghĩ nó cũng không phải của ông.”
“Cậu không hiểu chuyện năm đó.”
“Tôi hiểu đủ.”
Ông ta thở dài, như người lớn thất vọng vì một đứa trẻ bướng bỉnh.
“Đêm đó hỗn loạn. Cháy, khói, người chết, người la hét. Nếu không có chúng tôi xử lý, mọi thứ còn tệ hơn. Có những hồ sơ cần sắp xếp lại. Có những cái tên cần đổi chỗ để tránh phiền phức cho gia đình người ta.”
“Tránh phiền phức cho gia đình hay cho ông?”
Nụ cười trên mặt Lưu Thành nhạt đi.
“Cậu giống thằng Quân. Tài xế thì nên lái xe. Đừng mở thứ mình không nên mở.”
Tôi bật ghi âm trên điện thoại, để trong túi áo.
“Trịnh Văn Quân chết vì ông.”
Lần đầu tiên, ánh mắt Lưu Thành động.
Ông ta nhìn ra phía cửa kho, nơi xe tôi đang đậu trong mưa.
“Đừng gọi cái tên đó ở đây.”
“Tại sao? Ông sợ à?”
“Tôi không sợ người chết.”
Ngay khi ông ta nói câu đó, toàn bộ kho vang lên tiếng gõ.
Không chỉ một chỗ.
Từ tủ sắt.
Từ thùng gỗ.
Từ dưới nền.
Từ bức tường cháy.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Mặt Lưu Thành tái đi.
Tôi lùi dần ra cửa.
Ông ta quát:
“Đưa cái túi đây!”
Rồi ông ta lao tới.
Tôi quay người chạy.
Phía sau, tiếng bước chân đuổi theo, nhưng lẫn trong đó có nhiều tiếng bước khác. Tiếng chân trần trên nền ướt. Tiếng bánh xe cáng lăn. Tiếng móng tay cào lên tôn.
Tôi lao ra mưa, mở cửa xe, ném túi hồ sơ vào ghế phụ rồi chui vào ghế lái.
Quân nói gấp:
“Chạy!”
Tôi đề máy.
Động cơ không nổ.
Tôi đề lần nữa.
Không nổ.
Lưu Thành từ trong kho chạy ra, áo mưa đen phấp phới. Nhưng phía sau ông ta, trong bóng tối nhà kho, có rất nhiều người đứng dậy.
Những bóng người mặc áo bệnh nhân.
Người không có tóc.
Người ôm ngực.
Người bế một bọc vải.
Người đàn bà trẻ với bảng tên cháy sém trên cổ tay.
Lưu Thành không thấy ngay. Ông ta chỉ nhìn tôi, mắt đỏ lên vì tức giận.
“Xuống xe!”
Tôi đề máy lần ba.
Radio bật lên.
Giọng Quân vang từ loa, cùng lúc với giọng anh phía sau:
“Đừng mở cốp trước khi trời sáng.”
Tôi nhìn đồng hồ.
4:38.
Chưa sáng.
Nhưng tiếng gõ trong cốp lúc này không còn đều nữa.
Nó dồn dập.
Cộc cộc cộc cộc!
Như có người bên trong biết thời gian không còn nhiều.
Quân nói:
“Lái tới cuối hẻm. Khi thấy đèn đầu tiên sáng lại, cốp sẽ tự mở.”
“Còn nếu không thấy?”
“Thì đừng để mình nhìn vào gương.”
Lưu Thành đã tới sát đầu xe.
Ông ta đập tay lên nắp capo.
“Xuống!”
Phía sau ông ta, người đàn bà trẻ mặc áo bệnh nhân đứng trong mưa, đầu cúi thấp. Trên cổ tay cô là bảng tên cháy mất nửa góc.
… Thảo.
Lưu Thành dường như cảm thấy điều gì đó. Ông ta quay đầu.
Ngay khoảnh khắc ấy, mặt ông ta cứng lại.
Tôi không biết ông ta thấy bao nhiêu người.
Nhưng tôi thấy ông ta lùi một bước.
Rồi thêm một bước.
Người đàn bà trẻ đưa tay lên, gõ nhẹ vào khoảng không trước mặt ông ta.
Cộc.
Lưu Thành hét lên.
Động cơ xe tôi nổ máy.
Tôi đạp ga.
Chiếc xe lao khỏi nhà kho, bánh xe cán qua rãnh nước trắng đục. Hẻm Cống Trắng trước mặt dài hun hút. Hai bên hẻm, cửa nhà mở toang, nhưng bên trong không phải nhà dân mà là những buồng bệnh tối om. Trên giường có những tấm chăn phồng lên rồi xẹp xuống. Những cánh tay thò ra khỏi khe cửa, vẫy tôi dừng lại.
“Khánh!”
Giọng mẹ tôi.
“Khánh, cứu má!”
Tôi nhìn thẳng.
“Khánh!”
Giọng chị Hạ.
“Mày bỏ tao lại hả?”
Tôi nhìn thẳng.
“Khánh!”
Lần này là giọng tôi.
“Mở cốp đi. Mày ở trong này mà.”
Tôi run đến mức răng va vào nhau.
Gương chiếu hậu rung nhẹ.
Tôi không muốn nhìn, nhưng trong khóe mắt, tôi thấy hình ảnh hiện lên.
Trong gương là tôi.
Không phải tôi đang lái xe.
Mà là tôi nằm co trong cốp, mặt trắng bệch, móng tay bật máu vì cào lên nắp.
Tôi lập tức nhìn thẳng.
Quân quát:
“Đừng nhìn!”
Tôi đạp ga mạnh hơn.
Đèn đường phía sau tắt từng cây.
Tôi biết nếu bóng tối bắt kịp đầu xe, tôi sẽ không ra được nữa.
Từ cốp, tiếng gõ chuyển thành tiếng cào.
Rẹt.
Rẹt.
Rẹt.
Tôi hét lên, không biết hét với ai:
“Sắp tới chưa?”
Quân nói:
“Nhìn đèn.”
Phía trước xa xa có một bóng đèn vàng.
Nó chớp tắt.
Rất nhỏ.
Như một con mắt sắp nhắm lại.
Tôi đạp ga đến sát sàn. Chiếc xe rung lên, động cơ gầm bất thường. Hai bên hẻm, những bóng người chạy song song. Có người đập tay vào kính. Có người bám lên mui xe. Có người ghé sát tai tôi thì thầm:
“Ở lại đi.”
“Mở cốp đi.”
“Đổi chỗ đi.”
“Anh mệt rồi mà.”
Tôi không đáp.
Sợi chỉ đỏ mẹ buộc trên cổ tay tôi bỗng siết lại. Không đau, nhưng đủ để kéo tôi tỉnh.
Tôi nhìn thẳng vào bóng đèn vàng phía trước.
Nó sáng lên.
Cùng lúc đó, cốp xe phía sau bật mở.
Ầm!
Một luồng gió lạnh giật mạnh qua xe. Tôi nhìn vào màn hình camera lùi tự bật. Trong hình, nắp cốp mở toang. Bên trong không phải xác tôi. Không phải Trịnh Văn Quân.
Mà là một túi hồ sơ cháy sém được bọc trong nylon đen, nằm ngay giữa cốp, như từ đâu đó vừa được đặt vào.
Trên túi có dán một mảnh giấy cũ:
VƯỜN DÂU — ĐÊM 17
KHÔNG TIÊU HỦY
Quân nói, giọng nhẹ hơn lần đầu tiên:
“Thấy rồi.”
Tôi lao xe qua bóng đèn vàng.
Mọi thứ trắng xóa.
Khi tôi mở mắt, xe đang nằm bên lề một con đường lớn gần chợ Bắc Trì.
Trời hửng sáng.
Mưa đã nhỏ lại.
Phía sau, cốp xe vẫn mở.
Tôi run rẩy bước xuống.
Trong cốp có túi hồ sơ cháy sém thật.
Không phải ảo giác.
Tôi chạm vào nó. Túi ướt nước mưa, lạnh buốt. Bên trong có giấy, thẻ nhớ, một cuộn băng nhỏ và vài bảng tên bệnh nhân.
Tôi quay lại ghế sau.
Trống không.
Nhưng trên kính cửa sau có một vệt nước chảy xuống, giống như ai vừa tựa đầu vào đó rất lâu.
Điện thoại tôi reo.
Là chị Hạ.
Lần này, cuộc gọi hiện bình thường.
Tôi bắt máy.
“Khánh! Mày ở đâu?”
Tôi nhìn biển đường.
“Gần chợ Bắc Trì. Tao ra rồi.”
Đầu dây bên kia im lặng một giây.
Rồi chị Hạ thở bật ra.
“Còn sống không?”
Tôi cười, nhưng nước mắt tự chảy xuống.
“Chắc vậy.”
“Có gì không?”
Tôi nhìn túi hồ sơ trong cốp.
“Có.”
Ba mươi phút sau, chị Hạ và bác Tư Gác tới.
Bác Tư vừa nhìn thấy túi hồ sơ đã ngồi thụp xuống lề đường. Ông run run chạm vào mảnh giấy dán bên ngoài, rồi đưa tay che mặt.
“Trời ơi, Quân…”
Chị Hạ không khóc. Chị làm việc như một cái máy. Chụp hình. Quay video. Sao lưu thẻ nhớ. Gọi cho một người quen làm bên báo địa phương, rồi gọi tiếp cho một luật sư từng hỗ trợ tài xế trong các vụ tai nạn. Chị không giao ngay bản gốc cho bất kỳ ai. Mỗi thứ đều được chụp, scan, gửi nhiều nơi.
Trong túi hồ sơ có danh sách bệnh nhân thật của đêm cháy.
Có bản ghi âm từ phòng trực, trong đó có giọng người báo khu điều trị sau còn người mắc kẹt nhưng bị yêu cầu khóa cổng phụ để “chờ chỉ đạo”.
Có bảng kê vận chuyển do công ty của Lưu Đình Thành ký nhận.
Có tên Trịnh Văn Quân trong danh sách tài xế thuê ngoài.
Có một ghi chú viết tay: “Xe Q. nghe tiếng trong cốp. Xử lý trước khi ra đường lớn.”
Tôi đọc câu đó mà tay lạnh toát.
Xử lý.
Một chữ gọn gàng để nói về mạng người.
Chị Hạ cũng khôi phục được một phần băng ghi âm tìm trong kho. Trong đó có giọng Lưu Đình Thành, trẻ hơn năm năm, nhưng vẫn bình thản:
“Đóng cốp lại. Nó chỉ là tài xế. Nếu nó hỏi nữa thì đổi xe khác.”
Đến trưa hôm ấy, tin về hồ sơ Bệnh xá Vườn Dâu Cũ bắt đầu lan trong mấy nhóm tài xế và vài trang tin địa phương. Chiều, có người của cơ quan điều tra xuống làm việc với bác Tư Gác và chị Hạ. Tối, nhà kho Cống Trắng bị niêm phong.
Lưu Đình Thành không có mặt ở văn phòng công ty cứu hộ của ông ta.
Người nhà nói ông ta đi từ đêm qua chưa về.
Camera an ninh gần chợ Bắc Trì ghi được lúc 4:50 sáng, một người đàn ông mặc áo mưa đen chạy loạng choạng trong mưa, miệng liên tục ngoái lại phía sau. Ông ta chạy vào Hẻm Cống Trắng.
Nhưng camera ở đầu hẻm kế tiếp không ghi được cảnh ông ta đi ra.
Ba ngày sau, người ta tìm thấy chiếc ô đen của Lưu Thành mắc ở hàng rào sau Bệnh xá Vườn Dâu Cũ. Trên cán ô có ba vết lõm tròn, như bị ai đó dùng đốt ngón tay gõ vào.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Còn ông ta thì mất tích.
Có người nói ông ta trốn.
Có người nói bị đối thủ xử lý.
Có người nói những người giàu như ông ta luôn tìm được đường thoát.
Nhưng bác Tư Gác chỉ nói một câu:
“Không phải đường nào cũng có lối ra cho người sống.”
Một tuần sau, tôi cùng bác Tư đến trước cổng Bệnh xá Vườn Dâu Cũ.
Trời hôm đó không mưa.
Bệnh xá đã bị rào lại bằng tôn mới. Trước cổng có biển cấm vào, niêm phong đỏ dán chồng lên ổ khóa. Nhưng bên trong, dãy nhà cũ vẫn đứng im, tường loang khói, hành lang tối, ô cửa tầng một không còn sáng.
Tôi đặt chiếc mũ bảo hiểm cũ, áo mưa xám và tấm thẻ tên của Trịnh Văn Quân lên một cái bàn nhỏ bác Tư mang theo. Bác thắp ba nén nhang.
Khói nhang bay thẳng lên một lúc, rồi nghiêng về phía cổng bệnh xá.
Bác Tư cúi đầu rất lâu.
Tôi nghe ông nói, giọng nghẹn:
“Quân à, bác Gác xin lỗi. Đêm đó bác thấy mà bác im. Bác sợ. Bác nghĩ mình già rồi, nói ra cũng chẳng ai nghe. Bác sai rồi.”
Gió thổi qua cổng sắt, phát ra một tiếng rên rất nhẹ.
Tôi đứng cạnh bác, nhìn tấm thẻ tên.
“Anh Quân,” tôi nói, lần đầu tiên gọi tên anh mà không thấy lạnh sống lưng, “tôi không biết bằng chứng đó có trả lại hết công bằng cho anh không. Nhưng ít nhất từ giờ, người ta sẽ không chỉ nhớ anh là tài xế chết trong cốp nữa.”
Tôi ngừng lại.
“Anh có tên. Anh là Trịnh Văn Quân.”
Nén nhang giữa bàn cháy sáng hơn một chút.
Phía sau tôi, chiếc xe đậu bên đường im lìm. Tôi đã thay gương chiếu hậu mới. Cái gương cũ tôi bọc lại, gửi cùng đồ của Quân cho bác Tư. Nhưng không hiểu sao, trên gương mới, ngay mép phải vẫn có một vệt mờ rất nhạt. Lau không sạch.
Tôi không nói với ai.
Khi chúng tôi chuẩn bị rời đi, tôi nhìn qua kính xe.
Trong gương chiếu hậu, phía bên kia đường có một người đàn ông mặc áo mưa xám đứng dưới gốc cây.
Không mũ bảo hiểm kéo thấp nữa.
Không cúi sát vai tôi.
Chỉ đứng đó, lặng lẽ.
Tôi nhìn không quá ba nhịp.
Một.
Hai.
Đến nhịp thứ ba, bóng người ấy cúi đầu như chào.
Rồi biến mất.
Sau chuyện đó, tôi nghỉ chạy đêm.
Ban đầu là một tuần. Rồi một tháng. Sau đó, tôi chỉ nhận cuốc ban ngày. Ai hỏi, tôi bảo sức khỏe mẹ yếu, tôi muốn đổi giờ. Đám tài xế quen ở bến xe Nam Lạc nghe chuyện thì nửa tin nửa ngờ. Có người bảo tôi dựng chuyện cho vui. Có người bảo chắc tôi bị thiếu ngủ quá hóa hoang tưởng. Cũng có người lặng lẽ xóa điểm Bệnh xá Vườn Dâu Cũ khỏi danh sách nhận cuốc, dù trên app không phải lúc nào nó cũng hiện.
Chị Hạ vẫn giữ liên lạc.
Vụ Bệnh xá Vườn Dâu Cũ được mở lại một phần. Một vài gia đình năm xưa tìm đến nhận hồ sơ. Có người khóc ngay trước cổng bệnh xá vì sau năm năm mới biết người thân mình không chết như giấy báo. Có người chỉ đứng im, nhìn tấm bảng tên cháy sém, không nói nổi câu nào.
Tên Trịnh Văn Quân xuất hiện trong một bài báo nhỏ.
Không dài.
Không đủ để trả lại năm năm bị chôn trong cốp xe.
Nhưng có một dòng:
“Tài xế Trịnh Văn Quân có thể là người đầu tiên phát hiện sai phạm trong quá trình vận chuyển hồ sơ và nạn nhân sau vụ cháy.”
Tôi cắt bài báo đó đưa cho bác Tư.
Bác đặt nó cạnh tấm thẻ tên của Quân, trước bát nhang nhỏ trong chòi giữ xe.
Tôi tưởng đến đó là xong.
Cho đến một đêm, khoảng hai tháng sau.
Hôm ấy tôi không chạy. Tôi ở nhà, mẹ đã ngủ. Tôi ngồi ngoài hiên uống trà, nhìn mưa rơi xuống sân. Cơn mưa phùn mỏng, lạnh, giống hệt đêm đầu tiên.
Điện thoại tôi đặt trên bàn.
Tôi đã gỡ ứng dụng gọi xe cũ.
Đã đổi máy.
Đã đổi sim.
Tôi không còn chạy ca đêm.
Nhưng đúng 2:17 sáng, màn hình điện thoại tự sáng.
Không có logo app.
Không có bản đồ.
Chỉ có một thông báo màu xanh hiện giữa màn hình đen:
“Bạn có muốn nhận cuốc gần đây không?”
Tôi ngồi yên rất lâu.
Ngoài đường, dưới ánh đèn vàng, hình như có một chiếc xe chạy chậm qua. Ghế sau trống. Nhưng khi xe lướt ngang cổng nhà tôi, tôi nghe từ rất xa một tiếng gõ khe khẽ.
Cộc.
Tôi tắt màn hình.
Không bấm nhận.
Từ đó, cánh tài xế đêm ở Tân Lạc truyền nhau một lời: sau 2 giờ sáng, nếu ứng dụng báo điểm đón ở Bệnh xá Vườn Dâu Cũ thì đừng ham tiền mà nhận. Còn nếu lỡ nhận rồi, cứ nhìn thẳng mà lái. Đừng nhìn gương quá lâu.
Vì có những vị khách không ngồi sau xe.
Họ ngồi trong phần đường mà người sống không nên thấy.